| Giữa đại dương vời vợi, ngút ngàn, những con tàu từ nghìn năm qua chỉ trông đợi vào những đốm sáng hải đăng để tìm đường về bến. Hải đăng trong đêm tối biển đen đã trở thành con mắt của đại dương mênh mông, toả sáng niềm hy vọng… Với khoảng 1.500 ngọn hải đăng lớn nhỏ đang hoạt động trên khắp thế giới, Hải đăng Vũng Tàu và Hải đăng Bảy Cạnh (Côn Đảo) là hai trong số những “con mắt đại dương” được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam.  Từ một công cụ hỗ ngành hành hải, hải đăng vươn trên tầm một ngọn đèn biển, trở thành một biểu tượng như sự minh triết, như nguồn sáng dẫn dắt con người. Tiền thân của hải đăng chính là những ngọn lửa hiệu đốt cháy sáng rực trên các đỉnh núi. Ngọn hải đăng đầu tiên do con người dựng lên là một trong 7 kỳ quan thế giới cổ đại - Hải đăng cao 134m Pharos ở Alexandria. Người La Mã đã xây dựng nhiều tháp hải đăng trong quá trình mở rộng đế quốc và đến khoảng năm 400 sau Công nguyên đã có khoảng 30 ngọn mở mắt chong đêm từ Hắc Hải đến Đại Tây Dương. Theo thống kê của Hiệp hội báo hiệu hàng hải quốc tế IALA, số hải đăng lớn nhỏ đủ loại thực tế còn hoạt động trên khắp thế giới hiện có khoảng 1.500. Tại Việt Nam, quốc gia có bờ biển dài so với diện tích toàn lãnh thổ, hiện có 79 ngọn đèn biển trải dài từ mũi Cà Mau đến địa đầu Móng Cái và trên hầu hết các đảo thuộc lãnh hải Việt Nam. Trong số này, Hải đăng Vũng Tàu và Hải đăng Bảy Cạnh (Côn Đảo) là hai trong số ít những “con mắt đại dương” được xây dựng sớm nhất ở Việt Nam. Lịch sử đèn biển BRVT Đó là Hải đăng Bảy Cạnh, được người Pháp xây dựng sớm nhất ở nước ta, nơi ghi dấu cuộc nổi dậy của tù nhân hòn Bảy Cạnh cách nay 122 năm. Theo một số tài liệu, ngay từ khi hoạch định việc đánh chiếm Côn Đảo, đô đốc Bonard đã nhận được chỉ thị từ bộ trưởng Hải quân Pháp về tầm quan trọng của quần đảo Côn Lôn, như một pháo đài quan sát cần phải chiếm ngay lập tức, và xây dựng tại đây một ngọn hải đăng. Bởi vậy, ngay sau khi đánh chiếm Côn Đảo (28/11/1861), đô đốc Bonard đã cử người khảo sát và dựng tạm ngọn hải đăng trên một ngọn đồi phía bắc thung lũng Cỏ Ống. 22 năm sau (27/8/1883), ngọn hải đăng Côn Đảo được chuyển đến một mỏm núi phía đông hòn Bảy Cạnh, với độ cao và tầm chiếu sáng ưu thế hơn. Kể từ ấy, ngọn hải đăng ở Côn Đảo được gọi là Hải đăng Bảy Cạnh. Vào thời điểm ấy, ngoài đảo chính (hòn Côn Lôn lớn) là nơi giam giữ tù nhân thì Bảy Cạnh là đảo thứ hai tập trung tù nhân, được sử dụng lao động khổ sai vào việc xây dựng hải đăng. Tại một thung lũng phía bắc, dưới chân hòn Bảy Cạnh, quản đốc nhà tù Bocquet đã cho xây dựng một nhà kho đựng vật liệu và thuốc nổ, một nhà ở cho giám thị, binh lính và một nhà giam dành cho tù nhân. Công việc của tù nhân ở đây là phá đá, san mặt bằng, xẻ gỗ, chuyển vật liệu lên ngọn núi cao hơn trăm thước để xây hải đăng. Đây là công việc hết sức nặng nhọc. Bản tường trình ngày 6/9/1883 của quản đốc Bocquet mô tả tình hình lao dịch của tù nhân ở Bảy Cạnh như sau: “Các tù nhân phơi mình suốt ngày ngoài mưa nắng để xây mặt bằng hải đăng. Từ sáu tuần nay, họ không được nghỉ ngơi. Chủ nhật cũng như ngày thường, họ làm việc từ 5 giờ sáng đến 11 giờ trưa và từ 1 giờ 30 đến 6 giờ chiều. Tên nào ca cẩm, mệt lả hoặc bị bệnh xin nghỉ đi nhà thương đều bị ông Dulong (phụ trách việc xây dựng hải đăng) đánh bằng roi mây… Việc san lấp mặt bằng hải đăng tiến triển rất chậm, chưa có đường lên đỉnh núi, tù nhân vừa trèo vừa bám rất cực nhọc”. Theo nhận định của Bocque, trong nhiều nguyên nhân dẫn tới cuộc nổi dậy phá kho thuốc súng và giết chết hai giám thị trại giam ngày 27/8/1883, thì nguyên nhân trực tiếp chính là nạn lao dịch khủng khiếp của tù nhân tại tại công trường xây dựng hải đăng. Ngày nay, để đến Hải đăng Bảy Cạnh, trước hết phải đến Côn Đảo. Từ đảo lớn (trung tâm Côn Đảo) đi thuyền theo hướng đông nam hơn 7km thì đến Bảy Cạnh. Lần theo lối mòn, đi bộ khoảng 30 phút lên đỉnh núi phía đông sẽ đến ngọn hải đăng. Ông Nguyễn Đình Anh Tuấn - nhân viên Công ty Bảo đảm hàng hải II, một trong những người đầu tiên từ đất liền ra “tiếp quản” Hải đăng Bảy Cạnh sau ngày Miền Nam giải phóng, cho biết: Thời điểm năm 1976 ở đây rất hoang vu, chưa có máy phát điện và pin mặt trời như bây giờ, hải đăng chạy bằng bình ác - quy. Mỗi lần xạc bình, anh em gác đèn phải thay phiên nhau khiêng chiếc bình nặng 40 kg xuống chân núi, sau đó đưa lên xuồng chèo vào đảo lớn. Ăn uống cực khổ, ngoài món hải sản tự đánh bắt được, còn lại chủ yếu là đồ khô. “Công việc của anh em nhà đèn không khác gì công việc của một người lính đứng canh cho vùng biển tổ quốc với các nhật ký công việc nghiêm ngặt theo quy định của Hiệp hội báo hiệu hàng hải quốc tế IALA. Chỉ cần đèn ngừng chớp một đêm, hoặc chớp không theo quy định của mỗi đèn là đã có thể gây ra những tai nạn thảm khốc dẫn đến ngành hàng hải phải bồi thường cho các công ty vận tải biển quốc tế khi đi vào vùng biển nươc ta” - ông Tuấn tâm sự. Soi đường, dẫn lối Hải đăng Vũng Tàu nằm ở trung độ Núi Nhỏ, toạ lạc trên độ cao 170m so với mức nước biển, có nhiệm vụ chỉ dẫn tàu thuyền qua lại và vào ra vịnh Gềnh Rái. Ngoài vị trí và chức năng của ngành hàng hải, Hải đăng Vũng Tàu được xây dựng ở nơi có thiên nhiên tươi đẹp, đưa lại sự hấp dẫn khác là tham quan và du lịch. Đứng trên Hải đăng Vũng Tàu, du khách có thể dõi tầm mắt quan sát toàn cảnh thành phố với biển và bờ biển, các làng chài và dãy núi Minh Đạm… Theo nhiều nguồn tài liệu, Hải đăng Vũng Tàu được xây dựng lần đầu tiên vào khoảng năm 1870, tức tám năm sau khi miền Đông Nam Bộ trên danh nghĩa đã trở thành thuộc địa của pháp. Năm 1913, Hải đăng Vũng Tàu hiện nay được xây dựng mới từ vị trí cũ. Do được xây dựng khá sớm lại tồn tại lâu dài nên Hải đăng Vũng Tàu ngày nay vẫn giữ nguyên kiểu dáng, kỹ thuật cổ điển. Đó là một tháp tròn, sơn trắng, cao 18m (tính cả chiều cao của núi là 188m so với mặt nước biển). Ông Nguyễn Văn Thành, người đã từng có thời gian dài là công nhân gác Hải đăng Vũng Tàu, cho biết: Công suất bóng đèn chỉ 500W, nhưng Hải đăng Vũng Tàu chiếu xa được 55km nhờ cấu tạo của hệ thống lăng kính đồ sộ. Hệ thống lăng kính gồm những tấm kính ba cạnh (kiểu tam giác) bao quanh. Tán đèn có hai lỗ thủng lớn bằng nhau. Hệ thống đèn quay nhờ môtơ với tốc độ 5 vòng/phút. Đêm đến, đứng ở Bãi Trước du khách thấy hai luồng ánh sáng như hai đường thẳng quét tròn kế tiếp nhau trên nền trời tối sẫm. Cũng theo ông Thành, trước kia chưa có điện lưới, Hải đăng Vũng Tàu quay nhờ hệ thống dây thiều, cứ ba giờ phải lên cót một lần. Tháp hải đăng được nối liền với khu ở của những người vận hành bằng một con đường hầm cong kiên cố với dáng vẻ cổ kính. Khu nhà có lối kiến trúc kiểu Pháp, hai tầng, xây dựng cùng thời với tháp hải đăng. Vì ở cao, không đào được giếng, người ta đã xây dựng hệ thống bể chứa nước mưa dự trữ để dùng cả năm. Bao quanh khu nhà vận hành là vườn sứ nhiều chục năm tuổi, toả bóng mát rượi, khi trổ bông thơm ngát. Hải đăng Vũng Tàu là một công trình kiến trúc kiên cố nhưng không thô. Riêng giá trị lịch sử – văn hoá lâu đời, lại toạ lạc ở một vị trí có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, đã đủ đưa Hải đăng Vũng Tàu trở thành điểm tham quan kỳ thú. Vào dịp lễ hay chủ nhật đây là điểm vui chơi dã ngoại của nhiều người dân địa phương. Gần một trăm năm qua, Hải đăng Vũng Tàu là người bạn tin cậy và trung thành của những người đi biển, là biểu tượng của thành phố biển Vũng Tàu. Và nhất là những đêm giông bão, ánh đèn hải đăng không chỉ là người dẫn đường mà còn trở thành chiếc phao cứu sinh cho bao người đã mất hết phương hướng. Đó chính là lý do để người ta ví hải đăng như “con mắt đại dương” toả sáng niềm hy vọng. Nhật Long St |