| Vào hạ tuần tháng 5, năm Ất Dậu (1885) tại tỉnh Thừa Thiên xảy ra cuộc binh biến to vì viên thống tướng De courcy từ Pháp sang chưa đầy hai tháng đã dung mưu mô áp lực để cưỡng bách triều đình Huế phải nhận đủ thứ điều kiện phạm đến chủ quyền của Việt Nam. Vua Hàm Nghi cùng các quan phụ chính đại thần không sao chịu nổi trước sự đè nén của lũ thực dân tàn bạo. vì đó mới xãy ra cuộc binh biến bùng nổ trong đêm 22 tháng 5 năm 1885. “Cây núi ngự nát gan người sĩ khí Nước Sông Hương trào lệ khóc quân vương Máu tràn song chìm đắm nhà Nam Thây đầy nội ngửa nghiêng trời đất Việt” Vua Hàm Nghi bị bắt và đày sang Angieri. Trong đám tùy tùng chạy theo vua Hàm Nghi có hai anh em nhà họ Đặng. anh là Đặng Phong Tài, em là Đặng Trác Vân (còn gọi là Trác). Vì là hai anh em sinh đôi nên hai người giống nhau như đúc, do đó người ngoài thường nhận lầm. thuở hàn vi gia đình họ Đặng có nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi tên là Trương Quang Ngọc, lúc ra phò vua giúp nước, anh em ông Tài đem Ngọc theo để hưởng bổng lộc vua ban. Nhưng khi thấy vua Hàm Nghi không có hy vọng gì đương đầu với giặc Pháp, Ngọc sanh lòng bội phản rắp tâm thong đồng với giặc Pháp bắt vua đem nộp để lãnh thưởng. ông Tài cũng bị bắt luôn trong cuộc làm phản của Ngọc, mai có người em là Trác Vân chạy thoát. Tài bị bắt đày ra Côn Đảo vào mùa đông năm 1885, chế độ nhà tù của Pháp lúc này còn dễ dãi, nên Tài được ra lấy vợ ở làng An Hải. vợ Tài tên là Đào Minh Nguyệt, vóc người cân đối nõn nà, tấm than kiều diễm ấy đã từng làm rung động biết bao trái tim đa cảm của đấng mày râu. Cha của nàng là một vị Hương Cả đương niên của làng An Hải, vốn là nạn nhân của triều đình Huế còn lưu lại. nhờ tính cần cù nên ông tạo được một tài sản khá dồi dào. Sau khi gả nàng cho Tài, ông cấp cho vợ chồng nàng một khu vườn thuộc ấp An Hội để vợ chồng nàng có cơ ngơi sinh sống. có một lần ông Tài đi vắng đến mãi hôm sau mới trở về. theo thói quen như bao lần trước , vừa thấy mặt chồng về là nàng bước ngay đến để được tặng một nụ hôn nồn thắm. nhưng lần này nàng hết sức ngạc nhiên vì chưa kịp làm theo ý mình đã bị đẩy ra và nghe tiếp một câu cải chính :Xin chị thứ lỗi cho em, em là Đặng Trác Vân em chồng của chị từ trong đất liền mới bị Tây đày ra đây, được người ta cho phép vào ấp này để sống chung với anh chị.Khi đó nàng Nguyệt mới ngẩn người ra, song cũng gắng gượng hàn huyên hỏi han sự tình. Thì ra từ ngày thoát nạn, Trác Vân theo về với cụ Phan Đình Phùng tiếp tục cuộc kháng chiến. thời gian ở trong nghĩa quân của cụ Phan, Trác Vân dưới quyền chỉ huy của Lãnh Thạc, một tướng tài giỏi của cụ Phan, Thạc cũng như Vân cả hai đều tài giỏi. Trác được Lãnh Thạc giao cho việc theo dõi tên Ngọc suốt mấy năm trường mới hạ được Ngọc, vào ngày 24 tháng 12 năm 1893. Sau khi giết được kẻ thù, Thạc vẫn tiếp tục cuộc kháng chiến dưới sự điều khiển của cụ Phan. Còn Trác thì tự nguyện đến cửa quan nộp mình chịu tội và xin được đày ra Côn Đảo để gặp được anh mình. Giữa lúc kể lể chuyện nhà, chuyện nước cho chị dâu nghe thì ông Tài về tới, an hem gặp nhau trong cảnh tù đày mừng mừng, tủi tủi…trong phút giây trùng phùng ấy, nàng Nguyệt chăm chú đứng nhìn hồi lâu hai chàng một mặt mà lòng riêng những nỗi bồi hồi, trái tim xáo động như muốn vỡ làm đôi, bởi những cảm giác lạ lùng khó tả, nhìn chồng thì giống hệt người em, rồi nhìn em cũng không có nét gì khác biệt. đối với Tài thì chàng bao giờ cũng là người chồng đáng kính của nàng, nhưng khi nhìn qua chú Trác thì cũng là mẫu ngườ phong nhã, dể mến, dễ yêu!...Trước tình thế lưỡng long nhất phụng, chạnh niềm riêng ấp ủ yêu đương, nửa yêu ai, nửa lại thương chồng, nhưng san sẻ tình không thực hiện. tình tuy đáng trách, nhưng lý không nên trách, bởi yêu là yêu chung chứ nào ai có phụ ai. Thế nên khi nhìn Trác Vân, Minh Nguyêt mang nặng nổi cảm hoài, song vì danh tiết nàng không tiện ngỏ lời tâm sự. rồi một hôm ông Tài có việc phải qua làng Cỏ Ống, không rõ vì vô tình hay hửu ý mà lớp tuồng nhình lầm lại diễn ra lần nữa. nhưng Trác Vân vẫn một mực lòng dạ ngay thẳng, khiến nàng Nguyệt hết sức ngỡ ngàng, vì chủ tâm của nàng muốn đem tấm than trong ngọc trắng ngà đãi đằng người thiếu tình yêu, để cho người em được cùng người anh chung hưởng… ngờ đâu Trác Vân lại vô tình bất động! Khi đó nàng chẳng biết nói gì hơn là viện cớ nhìn lầm để rồi xin lổi chú em. Tuy nhiên Trác Vân vẫn thấy rõ ẩn tình của người chị dâu lãng mạn, chàng đâm lo ngại, biết đâu một ngày nào đó mình chẳng sa ngã trước sắc đẹp mê hồn rồi ra lỗi đạo luân thường. để tránh sự việc đáng tiếc có thể xãy ra, Trác Vân kết bè trốn sang một hòn đảo nhỏ nằm phía trước hòn đảo chính côn Lôn. Ông Tài vì quá thương em lặn lội tìm sang, nhưng khi qua đến nơi thì người em đã tránh sang hòn đảo khác. Thành ra hai anh em lại ở hai nơi. Chuổi đảo Tài Lớn, Tài Nhỏ, Trác Lớn, Trác Nhỏ có tên từ đó. Thảm thương thay cho số phận nàng Nguyệt, giữa lúc tình nồng duyên thắm nàng lại phải sống một cuộc đời đơn độc quạnh hiu. Trong những ngày sầu thương chiếc bóng, còn gì não lòng hơn cái tuổi xuân tàn tạ héo mòn. Tình trạng ấy khiến nàng: Thổn thức tình xuân, vò chín khúc Ngẩn ngơ hồn điệp, xót năm canh Khóc mưa thu, tiếng quốc mỏi mòn Sầu nắng hạ, mình ve khô héo. Dưới đây là câu hát ru do người địa phương sáng tác để diển tả tình tiết tâm lý của nàng Nguyệt gặp cảnh bẽ bàng: Ai sang Hòn Trác – Hòn Tài Cho em nhắn gửi một vài câu thơ Đêm suông, gió lặng, sao mờ Trăng khuya chếch bóng vẫn chờ đợi mây Chừng nào núi Chúa hết cây Côn Lôn hết đá dạ này hết thương Xuyên qua cuộc tình bộ ba nhà họ Đặng và cô Đào Minh Nguyệt ta thấy : Trong tên họ ông Tài có chữ Phong (là gió) đệm ở giữa thành ra Đặng Phong Tài. Kế đến chú Trác có chữ Vân (là mây) nối bên sau là Đặng Trác Vân. Tên vợ ông Tài là Đào Minh Nguyệt (có nghĩa là: mảnh trăng trong chiếu tỏa khắp phương trời). Hởi ơi! Nhớ gió thương mây sầu vạn kiếp Phòng không lẻ bóng thảm cho ai Dẫu rằng vật đổi sao dời Hết tròn lại khuyết muôn đời còn trăng./ |